Cô vừa mới đi ra khỏi bệnh viện, đang chuẩn bị về nhà trọ chuẩn bị mấy bộ quần áo tới sân bay, thư ký Tề Bạch Nham của bố liền tới đón, lịch sự nói: "Tiểu thư, phu nhân nói tôi tới đón cô về nhà." Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. 2. Phân tích bài thơ Thu vịnh Thiên nhiên mùa thu của quê hương làng cảnh Việt Nam, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Khuyến đẹp một cách thanh cao, gợi cảm, hồn hậu, khiến chúng ta càng thêm yêu, thêm quý quê Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. (Thu Vịnh, Nguyễn Khuyến) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Tìm và nêu tác dụng của từ láy sử dụng trong văn bản. Câu 2. Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Bức tranh vẽ mùa thu được tác giả phác họa với không gian thoáng đãng. Nền trời xanh chấm phá một nét nhẹ, mềm của cành trúc: "Trời thu xanh ngắt mấy từng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu." Ý nghĩa nhan đề và lời đề từ của Người lái đò sông Đó chính là hình ảnh con sông Đà hùng vĩ nhưng cũng đầy thơ mộng. Cùng với đó là vẻ đẹp của con người lao động Tây Bắc trong công cuộc chinh phục tự nhiên. Vậy sau đây là dàn ý và 9 mẫu ý nghĩa nhan đề Nhân hứng cũng vừa toan đựng bút, Nghĩ ra lại thẹn cùng với ông Đào. Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn cùng với ông Đào. (Thu vịnh - Nguyễn Khuyến) Câu hỏi: Câu 1: xác định đề tài của bài bác thơ? Câu 2: Tìm gần như hình hình ảnh gợi tả bức ảnh HY8rZF. Đào Uyên Minh còn gọi là Đào Tiềm 365 - 427, tự Nguyên Lượng, người đất Tầm Dương, Cửu Giang, tỉnh Giang Tây. Từ năm 29 đến năm 41 tuổi, có nhiều lần Đào Uyên Minh ra làm quan và cũng nhiều lần xin từ chức. Đến năm 405, ông chính thức tuyên bố rút về ở hẳn với điền viên. Lúc bấy giờ ông mới 40 tuổi và viết bài thơ “Quy khứ lai từ” Về đi thôi!. Nhà thơ Nguyễn Khuyến 1835 - 1909 hiệu là Quế Sơn, người làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Bấy giờ thực dân Pháp đang đánh chiếm dần cả nước ta, buồn vì không làm được gì trước cảnh nước mất nhà tan, năm 1884, ông cáo quan về sống tại quê nhà. Nguyễn Khuyến có 3 bài thơ về mùa thu thường được người đời nhắc đến nhiều, đó là “Thu vịnh” Vịnh mùa thu, “Thu ẩm” Uống rượu mùa thu và “Thu điếu” Mùa thu câu cá đều là thơ Nôm. Bài thơ “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến như sau “Trời thu xanh ngắt mấy tầng caoCần trúc lơ phơ gió hắt hiuNước biếc trông như từng khói phủSong thưa để mặc ánh trăng vàoMấy chùm trước giậu hoa năm ngoáiMột tiếng trên không ngỗng nước nàoNhân hứng cũng vừa toan cất bútNghĩ ra lại thẹn với ông Đào”. Các bản chú thích đều viết chung chung ông Đào ở đây là Đào Uyên Minh người đời Tấn bên Trung Quốc, là một nhà thơ làm quan nổi tiếng về phẩm chất thanh cao. Nhưng cụ thể ông Đào là người như thế nào và thơ văn ông ra sao thì ít người được biết thật tường tận. Vì vậy, để mọi người thật hiểu bài thơ của Nguyễn Khuyến và câu kết của bài thơ “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”, chúng ta cùng đi tìm hiểu. Đào Uyên Minh còn gọi là Đào Tiềm 365 - 427, tự Nguyên Lượng, người đất Tầm Dương, Cửu Giang, tỉnh Giang Tây. Cuối thời Đông Tấn, giai cấp thống trị tranh giành quyền lợi, âm mưu cát cứ, tiến hành chiến tranh. Nông dân bị bọn quan lại địa chủ chiếm đoạt, sưu thuế hà khắc, lao dịch nặng nề. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra. Đào Uyên Minh đã phải chứng kiến cuộc phong ba bão táp ấy. Lúc nhà Đông Tấn mất, ông đã hơn 55 tuổi. Từ năm 29 đến năm 41 tuổi, có nhiều lần Đào Uyên Minh ra làm quan và cũng nhiều lần xin từ chức. Đến năm 405, ông chính thức tuyên bố rút về ở hẳn với điền viên. Lúc bấy giờ ông mới 40 tuổi và viết bài thơ “Quy khứ lai từ” Về đi thôi!. Trong lời tựa bài thơ, ông nói rõ lý do vì sao đã ra làm quan và vì sao lại bỏ quan về ở ẩn “Nhà tôi nghèo cày cấy không đủ ăn. Nhà nhiều trẻ, trong nhà không mấy khi có gạo. Chẳng có cách gì kiếm đủ những cái cần thiết, bà con thân thích thường khuyên tôi ra làm trưởng lai”… Trong thời gian lui về ở ẩn, đôi lần các triều đại có vời ông ra làm quan, nhưng ông không ra, ở nhà cày ruộng, uống rượu ngâm thơ, tự do trong cảnh vui thú ruộng vườn hơn 20 năm, mặc dù lúc về nhà, đời sống ông vẫn lao đao, túng quẫn. Toàn bộ thơ Đào Uyên Minh có 114 bài. Ngoài ra có một số phú, văn tế đều nổi tiếng. Về mặt tư tưởng, Đào Uyên Minh không đứng hẳn về một phe phái nào nhất định. Thời trẻ, ông có tư tưởng của kẻ du hiệp. Khi về ở ẩn, ông lại mang tư tưởng Lão Trang. Nhưng tổng quát thì thấy ở ông nổi trội hơn cả là tư tưởng Khổng Giáo. Ông căn cứ vào tư tưởng, quan điểm của Nho gia mà phê phán hiện thực đương thời và ca tụng quan niệm luân thường đạo đức Nho gia, dựa vào phương châm Nho giáo mà an bần lạc đạo, nhất định không chịu hợp tác với bọn thống trị. Nội dung tư tưởng trong thơ văn của Đào Uyên Minh có hai nội dung chính một là thái độ bất hợp tác với chế độ thống trị đương thời, hai là một cuộc sống gần gũi với nông dân. So sánh đời sống tư tưởng và tình cảm cũng như thái độ và hành động của Đào Uyên Minh và Nguyễn Khuyến quả có nhiều nét giống nhau. Tuy ở hai nước khác nhau, hai thời đại khác nhau cách nhau cả nghìn năm nhưng có những nét tương đồng. Đó là một xã hội nhiễu nhương như nhau mà hai ông cùng không muốn hợp tác, tìm con đường về ở ẩn. Mà hàng nghìn năm chế độ phong kiến Việt Nam, những người ảnh hưởng Hán học như Nguyễn Khuyến ít nhiều đều có tư tưởng khâm phục những tấm gương của các danh sĩ Trung Quốc. Thực ra chưa hẳn ai đã hơn ai nhưng rõ là do tâm thế của danh sĩ nước nhỏ. “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” còn có thể hiểu Nguyễn Khuyến là người đời sau, ông về ở ẩn khi đã 50 tuổi trong khi Đào Uyên Minh về ở ẩn còn trẻ hơn ông 10 tuổi, Nguyễn Khuyến lại tham gia cuộc thi vịnh Kiều do Lê Hoan tổ chức hoặc làm gia sư trong dinh Hoàng Cao Khải trong khi Đào Uyên Minh thì dứt khoát từ chối mọi lời mời hợp tác của giai cấp thống trị… Có phải như vậy chăng? Hay đó là một cách nói khiêm tốn của nhà Nho? Hoặc Nguyễn Khuyến đã hiểu hết giá trị của thơ Đào Uyên Minh mà người đời không nhìn thấy? Bởi theo nhà thơ Chử Vân Long viết trên báo “Tiền phong chủ nhật” số 44 ra ngày 29/10/2006 “Đào Uyên Minh thời ông sống và mãi sau này, ông chỉ được coi là nhà thơ hạng C. Vậy mà hiện nay, Trung Quốc bình giá lại văn chương đã đưa ông lên ngang với “thơ tiên” Lý Bạch, nhà thơ số một đời Đường”.-PageBreak- Về đi thôiQuy khứ lai từ Dịch nghĩa Về đi thôi! Ruộng vườn sắp trở thành hoang vu, cớ sao chưa về? Đã để tâm hồn cho thể xác sai khiến 2 thì sao còn ảo não, buồn khổ một mình mà làm chi? Ta đã hiểu rõ rồi, những việc đã qua không thể sửa chữa được, nhưng những việc sau này còn có thể đổi thay, bởi vì ta chưa đi sâu vào con đường lầm lạc. Ta thấy rõ ngày hôm nay ta đúng mà ngày hôm qua là sai. Thuyền nhè nhẹ lướt đi, gió mát thổi bay tà áo. Hỏi thăm khách qua đường, con đường phía trước, giận thay, ánh mặt trời buổi mai lờ mờ không rõ. Nhìn thấy nhà, lòng vui sướng quá, ta rảo bước đi nhanh. Đầy tớ chạy ra đón ta, con thơ chờ ta ở cổng. Cỏ hoang phủ lấp đường đi trong vườn, nhưng cây tùng cây cúc vẫn như xưa. Dắt con vào nhà, có sẵn rượu đầy vò. Ta cầm bình rượu tự rót cho ta. Trông cành lá tươi tốt trước sân mà lòng vui vô hạn. Ngồi dựa vào cửa sổ phía nam, mà ký thác tâm tình phóng khoáng, mới biết nơi nhỏ hẹp này đủ để duỗi chân, cũng đủ sống an nhàn. Ngày ngày đi bách bộ trong vườn, thích thú biết bao. Tuy có cửa ngõ, nhưng lúc nào ta cũng đóng kín, ta chống gậy đi mãi, lâu lâu lại ngửng lên nhìn về phía xa. Đám mây tự nhiên bay ra khỏi núi, chim bay mỏi cánh thì nhớ bay về. Mặt trời sắp khuất sau rặng núi, nhưng ta vẫn đứng mân mê cây tùng lẻ loi, thơ thẩn đấy mãi. Về đi thôi! Từ đây không giao du với ai nữa, ta với đời không còn liên quan gì với nhau nữa. Giao du để làm gì? Ta vui sướng lắng nghe những lời tình tứ của người thân, ta vui với đèn sách để giải mối ưu phiền trong lòng ta. Nhà nông cho ta biết ngày xuân đã đến, phải cày cấy đám ruộng phía tây. Có lúc ta ngồi trên chiếc xe che mui, có lúc ta chèo, con thuyền nhỏ. Ta cho thuyền đi vào sâu tìm nguồn suối, hay là đánh xe lên các đống gò. Cỏ cây xanh tốt, suối chảy không ngừng. Ta càng thèm muốn thấy vạn vật gặp thời, và càng cảm thương cho việc xuất xứ của ta. Nhưng thôi! Tấm thân gửi trên cõi đời này, hỏi còn được mấy lúc. Sao không để mặc cho nó trôi đi, còn hoảng hốt muốn đi đâu nữa? Giàu sang vốn không phải sở nguyện của ta, mà cảnh tiên thì ta không có cách gì đi tới. Nay gặp thời tiết đẹp, một mình ta dạo chơi, hoặc cầm gậy bới cỏ hoang. Tới bờ ruộng hoang ta ngâm nga, lội dòng suối, ta làm thơ, mặc vạn vật biến hóa cho đến lúc tận cùng. Vui đạo trời, biết mệnh người, còn có điều gì nghi hoặc nữa. Dịch thơ Đi về sao chẳng về đi,Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về?Đem tâm để hình kia sai khiếnCòn ngậm ngùi than vãn với ai?Ăn năn thì sự đã rồi,Từ đây còn lại, biết thôi mới đi lạc chưa xa là mấy,Nay khôn rồi chẳng dại như thuyền thuận nẻo gió đưa,Gió hây hây áo thuyền lơ lửng hành khách lối nào đi tới,Bóng mập mờ trời mới rạng quê nẻo trước xa trông,Chân hăm hở bước đường mong tới đón chủ năm ba đầy tớ,Đứng chờ ông mấy đứa trẻ con;Rậm rì bao xóm con con,Mấy cây tùng cúc hãy còn như dắt trẻ vào nhà mừng rỡ,Rượu đâu đà sẵn chứa đầy vò;Thoạt ngồi tay đã nghiêng hồ,Cười nom sân trước thấp tho mấy rễu cợt một mình trước sổ;Khéo cũng hay vừa chỗ rung đùi;Thăm vườn dạo thú hôm mai,Cửa dù có, vẫn then cài như gậy dạo quanh vườn lại nghỉ,Ngắm cảnh trời khi ghé trông lênMây đùn mấy đám tự nhiên,Chim bay mỏi cánh đã quen lối chiều ngả bốn bề bát ngát,Quanh gốc tùng tựa mát thảnh đây về thực, về rồi,Thôi xin từ tuyệt với người vãng ta đã với đời chẳng hiệp,Cần chi mà giao thiệp với ai!Chuyện trò thân thích mấy người,Bạn cùng đèn sách khi vui đỡ làm ruộng ôn tồn hỏi chuyện,Tới xuân rồi sắp đến việc truyền sắm sửa câu xa,Hoặc khi đủng đỉnh thuyền ra coi khe nọ nước vòng uốn éo,Bên đường kia gò kéo gập ghềnh;Cỏ cây mơn mởn màu xanh,Suối tuôn róc rách bên ghềnh chảy muôn vật đương mùa tươi tốt,Ngán cho ta thôi trót già còn mấy nỗi ở đời,Khứ lưu sao chẳng phóng hoài tự nhiên,Cớ chi nghĩ thêm phiền tức dạ,Đi đâu mà tất tả vội chi?Giàu sang đã chẳng thiết gì,Cung tiên chưa dễ hẹn kỳ lên chơi!Chi bằng lúc chiều trời êm ả,Việc điền viên vất vả mà cao hát một tiếng dài,Xuống dòng nước chảy ngâm vài bốn thể này mặc dầu tạo hóa,Tới lúc nào hết cả thì ta phó với mệnh trời,Đừng ngờ chi nữa cứ vui vẻ hoài!Từ Long dịch Theo “Văn học Trung Quốc” tập 2 do Trương Chính – Phan Nghệ biên soạn – NXB Giáo dục, 1963 Xưa nay, về ba bài thơ viết về mùa thu của Nguyễn Khuyến đều được các nhà thơ, nhà văn, các nhà nghiên cứu văn học, nghiên cứu văn hóa nhận định rằng Đó là những bức tranh thơ bất hủ, đặc tả cảnh mùa thu làng quê Đồng bằng Bắc Bộ, nhưng vẫn còn nhiều ý nghĩa, ý tứ, cái hay, cái đẹp tiềm ẩn, khiến người đời sau không ngừng dứt mực bình luận, phân tích, nghiên cứu và ca ngợi. Trong bài viết này, chúng tôi xin có thêm một vài suy nghĩ, góp phần thêm sáng tỏ. Đọc ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, người đọc thường thấy ngay được ở đó có ba tầng không gian được miêu tả Tầng trên cao là bầu trời thu bài “Thu vịnh", tức “Vịnh mùa thu"; Tầng trên mặt đất, mặt ao bài “Thu ẩm", tức “Uống rượu mùa thu"; và Tầng ở dưới nước/ dưới đáy ao bài “Thu điếu", tức “Câu cá mùa thu". Bài “Thu vịnh" Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nước biếc trông như tầng khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào. Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào. Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Ở tư thế ngồi hoặc tựa gối, qua song cửa, nhà thơ ngước nhìn bầu trời thu cao vời vợi, xanh ngắt mấy tầng mà cảm hứng thơ. Và, rồi từ trên cao xanh ấy, cứ thấp dần, cảnh vật mùa thu hiện lên mỗi lúc một gần Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao - Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu - Nước biếc trông như tầng khói phủ - Song thưa để mặc bóng trăng vào - và, qua song cửa thấy mấy chùm hoa trước giậu. Duy chỉ có một âm thanh trong không trung mung lung vang vọng “Một tiếng trên không ngỗng nước nào" Nhiều người cho rằng, đó là tiếng đồng vọng không xác định trong không gian; nhiều người lại cho rằng đó là âm hưởng trong tâm tưởng tác giả xin phân tích ở cuối bài viết. Ở bài thơ này, để biểu thị không gian mùa thu cao lồng lộng, với nền cảnh bầu trời xanh ngắt, tác giả đã tinh xảo sử dụng lợi thế của âm vần tiếng Việt. Âm hưởng chủ đạo của bài thơ là vần Ao - một âm vực mở mấy tầng Cao, bóng trăng Vào, ngỗng nước Nào, với ông Đào. Bài “Thu ẩm" Năm gian nhà cỏ thấp le te, Ngõ trúc đêm sâu đóm lập loè. Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt, Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe. Rượu tiếng là hay, hay chẳng mấy, Độ năm ba chén đã say nhè. Giờ thì không gian mùa thu cứ như dần xuống thấp từ năm gian nhà cỏ xuống ngõ trúc đêm sâu, để rồi xuống tiếp nữa, trên mặt nước/ mặt ao, với bóng trăng loe lấp lánh. Trong cái say của thi nhân, theo hướng nhìn ngang lại như thấp dần, Nguyễn Khuyến thấy cái ảo từ trong cái thực, nên nhà tranh hóa ra nhà cỏ, vì trên mặt đất còn gì thấp hơn cỏ, và sau đó thấp hơn nữa là mặt nước/ mặt ao! Theo lăng kính cái nhìn ấy thì ngõ trúc cũng thẳm sâu trong màn đêm sâu. Tác giả đã chọn âm hưởng chủ đạo của bài thơ là âm vần Oe, tiếng Việt thường dùng âm vần này để biểu chỉ một thiết diện bề mặt đóm lập Lòe, bóng trăng Loe, mắt đỏ Hoe. Như vậy, không gian mùa thu ở bài thơ này như cố được thu lại, dồn nén xuống mặt đất, mặt nước, để cuối cùng in hình xuống đáy nước ao trong bài “Thu điếu". Bài “Thu điếu"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,Một chiếc thuyền câu bé tẻo biếc theo làn hơi gợn tí,Lá vàng trước gió sẽ đưa mây lơ lửng trời xanh ngắt,Ngõ trúc quanh co khách vắng gối buông cần lâu chẳng được,Cá đâu đớp động dưới chân bài thơ này, tác giả nhìn xuống ao để cảm xúc miêu tả, nên mới thấy nước trong veo, sóng nước gợn tí, chiếc lá vàng theo gió sẽ đưa vèo xuống ao; và thấy không gian mùa thu với tầng mây lơ lửng trên bầu trời xanh ngắt, với ngõ trúc thực in hình đáy nước, khi gặp xao động sóng nước mà khúc xạ thành ngõ trúc quanh co. Nói khác đi, tác giả miêu tả không gian ảo của trời đất, cảnh vật mùa thu dưới ao thu. Ở đó độ cao không còn, là âm, hay gọi là độ sâu. Như vậy, Nguyễn Khuyến đã miêu tả không gian mùa thu từ dương vô cùng bầu trời cao xanh ngắt đến âm vô cùng bầu trời thăm thẳm in đáy nước ao thu, nên mọi cảnh vật cứ thấp dần, tưởng như chìm xuống đến độ sâu bất tận. Trong bài này Nguyễn Khuyến đã khéo vận dụng ý nghĩa của âm vần tiếng Việt, với vần Eo là âm hưởng chủ đạo nước trong Veo, bé Tẻo teo, sẽ đưa Vèo, khách vắng Teo, dưới chân Bèo. Đó là những từ lấy trong thành ngữ “tí tẹo tèo teo", dùng biểu chỉ một vật thể nhỏ bé, hoặc những vật thể nhỏ bé đang trong xu hướng nhỏ bé dần, tưởng như sắp biến mất “Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo"Chiếc thuyền câu đã bé tẻo teo như vậy, thì người ngồi trên thuyền ấy còn phải bé đến mức thế nào!; vả lại, chẳng ai đi câu cá trong cảnh ao thu lạnh lẽo, nước trong veo! Vì vậy có lẽ, cuộc câu cá này là tác giả tưởng tượng ra; và nếu nó có thật thì cũng không nhằm mục đích là câu được cá. Rốt cuộc, “Thu điếu" chỉ cốt ý nói về chuyện câu cá. Chuyện này ám ảnh Nguyễn Khuyến buổi từ quan đến suốt xin nói về ông Đào ở bài “Thu vịnh". Ông Đào Tiềm sống thời nhà Tấn bên Trung Quốc, là một ông quan sống thanh bạch nhưng tính tình phóng khoáng, hay uống rượu, thưởng hoa và làm thơ văn, nên bọn người xấu ghen tị, xu nịnh lên vua rằng ông hay chểnh mảng việc công, vua nghe theo. Từ quan về ở ẩn, ngày ngày ông chăm chút mấy khóm cúc, hòng quên đi thời cuộc, nhưng không thể, nên có viết truyện “Đào Nguyên ký" tức bài “Ký Nguồn đào". Bài ký kể rằng Có một người câu cá trên sông. Sông chảy đưa thuyền câu của ông ta trôi đi. Theo dòng trôi, sông mỗi lúc hẹp dần lại rồi thành suối, cho đến khi thuyền không trôi được nữa, mắc lại ở khe núi. Người câu cá rời thuyền và đi vào hang núi, càng vào sâu, hang càng hẹp lại. Ông lách người qua, thì bỗng thấy trước mặt chói loà, một thế giới mở ra cây trái sum xuê, muông thú vui vầy; người đi cày, người đi cấy, người dệt vải se tơ; trai gái vẻ mặt hớn hở. Có ông lão râu tóc bạc phơ ra đón, tự nói là ông cha họ lánh nạn nhà Tần chạy vào đây, từ đấy xây dựng nên một đất nước cực thịnh, mọi người sung sướng, hòa đồng, hoan lạc. Ông lão hỏi chuyện bên ngoài, người câu cá kể cho biết Bây giờ đã là nhà Tấn, đương sự rối ren, xã hội loạn lạc, nhân tình li tao, nhà nhà li tán… Từ đời Tần đến Tấn đã 4 đến 5 trăm năm rồi… Người câu cá hỏi có muốn về thăm Tấn không, mọi người đều lắc đầu, bởi không muốn dời một xã hội tốt đẹp đến một xã hội xấu xa như vậy. Nghe vậy người câu cá giật mình bừng tỉnh. Thì ra ông ta vẫn ngồi trên thuyền câu, giữa dòng sông nước chảy, vừa qua một giấc mộng. Đọc truyện trên, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ cảm nghĩ trong bài thơ “Độc Đào Nguyên ký hữu cảnh", tức “Cảm xúc khi đọc Đào Nguyên ký". Bài thơ như sau Nguồn Đào suối hết lại non khơi, Cửa tới cung tiên đã mở rồi, Chốn ấy, bận nhìn không tính toán, Năm trăm xuân hạ bặt tăm hơi. Trầm ngâm say lả bên đèn tỏ, Bảng lảng quay về bóng hạc côi. Đáng giận, Đường - Ngu người chẳng thấy, Lại qua chỉ thấy Tấn - Tần thôi. Nguyễn Văn Huyền dịch Đường - Ngu thuộc đời vua Nghiêu, vua Thuấn, tương truyền cũng thịnh trị, thái bình, hòa mục như ở chốn Đào Nguyên, là một quốc gia, xã hội không có thật. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ thái độ bất bình khi nhắc tới các đời nhà Tần, nhà Tấn “Khả hận Đường - Ngu nhân bất kiến Vãng lai chỉ thị Tấn - Tần gian" Đáng giận, Đường - Ngu người chẳng thấy Lại qua chỉ thấy Tấn - Tần thôi Như vậy, người câu cá trong “Đào Nguyên ký" thật giống người câu cá trong “Thu điếu". Nguyễn Khuyến đã mượn việc câu cá mùa thu để ngồi hoài cảm câu chuyện đẹp nhưng ảo của quá khứ. Chỉ khi có tiếng cá đớp bóng “Cá đâu đớp động dưới chân bèo", ông mới sực tỉnh, về với thực tại, với nỗi sầu đau thời thế buổi Nho tàn, nước nhà bị ngoại bang phương Tây xâm lược. Ông như bóng hạc gầy cô đơn của người câu cá kia, bảng lảng quay về hiện thực của một xã hội loạn lạc, tang thương. Ở bài “Thu vịnh", xưa nay chưa có ai giải thích thoả đáng những câu “Một tiếng trên không ngỗng nước nào", “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào". Theo chúng tôi, có thể dựa vào điển tích nhân vật ông Đào Tiềm và điển tích văn học “Đào Nguyên ký" để giải thích Ông Đào Tiềm về ở ẩn, vẻ ngoài muốn quên đi thế sự, nhưng trong lòng vẫn cảm hoài một xã hội tốt đẹp nhưng ảo tưởng trong quá khứ, vẫn uống rượu thưởng hoa và làm thơ, chả lẽ mình Nguyễn Khuyến tự vấn trước không gian mùa thu tuyệt đẹp lại bỏ qua những nhắc nhớ về cái đẹp, muốn quên đi, cất bút không làm thơ, nhưng nghĩ tới ông Đào mà thẹn! Theo mạch liên kết các hình tượng Ông Đào, truyện “Đào Nguyên ký", câu thơ “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái", có thể suy ra nghĩa của câu “Một tiếng trên không ngỗng nước nào" - là âm thanh từ quá khứ vọng về trong tâm tưởng Nguyễn Khuyến, giữa không gian mùa thu ngập tràn, ông cứ ngỡ như là ở trên không trung vang vọng.​

nhân hứng cũng vừa toan cất bút